NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG LÚA NHỜ SỬ DỤNG PHÂN BÓN NPK THẾ HỆ MỚI CÔNG NGHỆ ECO-NANOMIX TRÊN CÂY LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN 2025–2026 TẠI XÃ CƯ YANG–ĐẮK LẮK

NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG LÚA NHỜ SỬ DỤNG PHÂN BÓN NPK THẾ HỆ MỚI CÔNG NGHỆ ECO-NANOMIX TRÊN CÂY LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN 2025–2026 TẠI XÃ CƯ YANG–ĐẮK LẮK

NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG LÚA NHỜ SỬ DỤNG PHÂN BÓN NPK THẾ HỆ MỚI CÔNG NGHỆ ECO-NANOMIX TRÊN CÂY LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN 2025-2026 TẠI XÃ CƯ YANG – ĐẮK LẮK

Nguyễn Thanh Phương ³*; Phạm Phú Hưng²; Ngô Đức Tú²;
Lưu Hữu Phước²; Phạm Ngọc Tuấn Hải²; Nguyễn Trần Thủy Tiên¹

¹ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ
² Công ty Cổ phần Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Bình Định
³ Trường Đại học Quang Trung

ảnh 1
ảnh 1

TÓM TẮT

Với mục tiêu đưa sản phẩm phân bón NPK thế hệ mới công nghệ Eco-Nanomix cho lúa nhằm giúp giảm lượng bón, giảm lạm bón, giảm phát thải CO₂ (khí phát thải nhà kính), ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, giúp nông dân tiết kiệm chi phí sản xuất, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất và góp phần vào việc phát triển nông nghiệp xanh, bền vững. Vì thế, vụ Đông xuân 2025–2026, đã đưa phân NPK Thế hệ mới công nghệ Eco-Nanomix vào đồng ruộng xã Cư Yang–Đắk Lắk và giúp cây lúa sinh trưởng tốt, phát triển cân đối, cứng cây, lúa đẻ nhiều và trổ tập trung hơn, nhánh hữu hiệu cao hơn. Tăng khả năng chống chịu nấm sâu, bệnh chính hại lúa xuất hiện thấp hơn đối chứng, nên giúp nông dân giảm dùng thuốc bảo vệ thực vật, giảm ô nhiễm môi trường, góp phần ổn định hệ sinh thái đồng ruộng, gia tăng hệ vi sinh vật và thiên địch có ích trên đồng ruộng.

Chất lượng hạt gạo tăng, năng suất lúa tươi của ruộng mô hình đạt 122 tạ/ha cao hơn so với ruộng đối chứng 12 tạ/ha (tương ứng tăng 19,6%). Lãi ròng tại ruộng mô hình đạt 23.519.000 đồng/ha cao hơn hơn ruộng đối chứng là 11.558.000 đồng/ha (tương ứng tăng thêm 96,6%).

Từ khóa: NPK Thế hệ mới công nghệ Eco-Nanomix, giảm lượng bón, nâng cao năng suất, chất lượng, cây lúa, xã Cư Yang, tỉnh Đắk Lắk.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Đắk Lắk là tỉnh có diện tích lúa lớn nhất trong khu vực Miền Trung–Tây Nguyên. Diện tích lúa cả năm 2025 của tỉnh là 176.368 ha, tăng 2,18% (+3.771 ha), năng suất lúa khô đạt 72,35 tạ/ha, tăng 0,73% (+0,53 tạ/ha) và sản lượng lúa đạt 1.275.944 tấn, tăng 2,93% (+36.305 tấn) so cùng kỳ năm trước (Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk, 2026).

Trong vụ Đông xuân 2025–2026, Đắk Lắk đã sản xuất được 76.752 ha lúa, năng suất đạt 80,0 tạ/ha, tăng so với cùng kỳ năm trước là 3 tạ/ha (Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, 2026). Riêng tại thôn 8, xã Cư Yang–Đắk Lắk có 180 hộ, canh tác nhiều loại cây trồng (lúa, tiêu, cà phê, điều, cây ăn quả…), trong đó lúa nước có diện tích 120 ha, sản xuất 2 vụ lúa/năm, năng suất lúa tươi vụ ĐX trong những năm gần đây bình quân 80,0 tạ/ha (Thông tin từ địa phương, 5/2026).

Trong khi đó, việc trồng lúa nước truyền thống có nguồn thải khí nhà kính lớn thứ hai trong nông nghiệp sau chăn nuôi và khí thải này gây hiệu ứng nhà kính, làm cho biến đổi khí hậu ngày càng tăng lên. Vì vậy, muốn giảm lượng phát thải, bắt buộc phải ứng dụng quy trình sản xuất tiên tiến, công nghệ mới vào quá trình sản xuất lúa…

Cụ thể, như giải pháp canh tác lúa “3 giảm, 3 tăng”, tức giảm lượng giống gieo sạ, giảm lượng phân bón và giảm thuốc bảo vệ thực vật để tăng năng suất, tăng chất lượng và tăng hiệu quả; hay “1 phải, 7 giảm”, tức phải sử dụng giống lúa xác nhận; giảm giống,

giảm nước, giảm phân bón, giảm số lần bón, giảm thuốc bảo vệ thực vật, giảm thất thoát sau thu hoạch và đặc biệt là giảm phát thải khí nhà kính. Thời gian gần đây, công nghệ nano đã được ứng dụng trong nông nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất phân bón. Bản chất của loại phân bón thế hệ mới này là các loại nano có tính enzyme và có tính chất của các cofactor có tác dụng kích hoạt sự hoạt động mạnh của các enzyme bất hoạt động trở lại. Nó dùng để kích hoạt hệ vi sinh vật, làm cho cây tăng cường khả năng quang hợp. Enzyme có khả năng giữ lại phân trong đất không bị rửa trôi, mất đi. Enzyme cũng kích hoạt các quang xúc tác, tăng khả năng sinh khối trong cây trồng (Công ty Cổ phần Sinh thái xanh, 2023).

Đối với loại phân bón công nghệ mới này, chỉ cần bón 2–3 lần cho 1 vụ lúa (trong khi phân bón khác thường bón 3–4 lần). Thời lượng phân hóa học hoặc NPK khác bón thường khoảng từ 10–15 ngày là phải bón lại cho lúa, vì rễ không hút hết thì phân sẽ bốc hơi hoặc rửa trôi. Trong khi phân bón NPK công nghệ Eco-Nanomix sẽ kéo dài sử dụng đến 40–50 ngày (Nguyễn Thanh Phương và cs.).

Bón phân nano giải phóng chậm đã làm tăng đáng kể hoạt động enzyme trong đất và quần thể vi sinh vật trong đất, cải thiện chất dinh dưỡng trong đất, giảm thất thoát chất dinh dưỡng, cải thiện môi trường sinh thái đất,… (Qing Teng, Dongmei Zhang, Xianchun Niu and Cailin Jiang, 2018). Các thí nghiệm nuôi cấy dung dịch đã được tiến hành để nghiên cứu ảnh hưởng của các hạt nano CuO (< 50 nm), các hạt nano CuO có thể xâm nhập vào tế bào thực vật qua rễ và lá. Sự tích lũy sinh học tăng lên khi nồng độ hạt nano CuO (NPs) tăng,… (Tapan Adhikari, Sivakoti Ramana, 2019).

Với mục tiêu đưa sản phẩm phân bón NPK thế hệ mới công nghệ Eco-Nanomix cho lúa nhằm giúp giảm lượng bón, giảm lần bón, giảm phát thải CO₂ (khí phát thải nhà kính) giúp nông dân tiết kiệm chi phí sản xuất, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất và góp phần vào việc phát triển nông nghiệp xanh, bền vững. Đặc biệt, mang lại hiệu quả kinh tế trong điều kiện giá vật tư phân bón và chi phí phục vụ sản xuất nông nghiệp tăng, giá lúa giảm.

2. QUY MÔ, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ KỸ THUẬT THỰC HIỆN

2.1. Quy mô, địa điểm, thời gian thực hiện

BẢNG 1. Quy mô, địa điểm, thời gian thực hiện

Địa điểm (Thôn, xã) Diện tích (m²) – Mô hình Diện tích (m²) – Đối chứng Giống Ngày gieo sạ Hộ tham gia XDMH* Chân đất
Thôn 8 – Cư Yang – Đắk Lắk 2.400 (1 đám) 2.700 (3 đám) 13/2 (IR17494) 25/12/2025 1 2 vụ/năm; đất thịt trung bình; độ phì khá

Ghi chú: *Hộ nông dân Tô Hiếu, diện tích 2.400 m²; Xã đồng giữa bãi Thôn 8.

Thời gian thực hiện: Vụ Đông xuân 2025–2026, từ tháng 12/2025–5/2026.

2.2. Một số phương pháp và biện pháp kỹ thuật chủ yếu áp dụng

  • Sử dụng giống lúa 13/2 (IR17494), cấp giống xác nhận. Lượng giống gieo: 160 kg/ha. Ngày gieo sạ: 25/12/2025. Phương thức gieo sạ: Sạ lan (gieo vãi).
  • Eco-Nanomix (chế phẩm bao gồm các hạt nano có kích thước < 100 nm (nano mét): ZnO, Li₂O, Ce₂O₃, TiO₂, CuO và SiO₂ cùng với các chất phụ gia).
  • Cách bón: Dùng máy phun hạt phân; Ruộng mô hình dùng phân NPK Thế hệ mới Eco-Nanomix (NPK 18-14-6 + 6S + TE bón thúc lần 1 & 2 với số lượng 200 kg/ha/lần và NPK 16-6-18 + 1Mg + TE bón thúc đồng lần 3 với số lượng 200 kg/ha); ruộng đối chứng (Đ/c): phân NPK khác (Bón thúc lần 1: 250 kg/ha NPK 10-10-5; Bón thúc lần 2: 250 kg/ha NPK 25-6-7; Bón thúc đồng lần 3: 250 kg/ha NPK 17-7-21) và theo quy trình tại địa phương, quy trình của Công ty.
  • Theo dõi các chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng, các đặc điểm nông học chính, mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất áp dụng theo Tiêu chuẩn Quốc gia: TCVN 13381-1: 2023 “Giống cây trồng nông nghiệp–Khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng; Phần 1- Giống lúa”.
  • Phương pháp tính hiệu quả kinh tế:
    • Tổng giá trị thu nhập (GR) = Năng suất x Giá bán trung bình;
    • Tổng chi phí lưu động (TVC) = Chi phí vật tư + Chi phí lao động + Chi phí năng lượng + Lãi suất vốn đầu tư, ;
    • Lợi nhuận (RVAC) = GR–TVC;
    • Tỷ suất lãi so với vốn đầu tư (VCR) = RVAC/TVC;
  • Số liệu thu thập được xử lý bằng chương trình Excel.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng thời tiết đến kết quả mô hình

Nhiệt độ thích hợp cho lúa phát triển từ 25-35°C, nhiệt độ cần thiết cho việc trổ bông từ 28-30°C. Ẩm độ thích hợp từ 70-80%, lượng mưa có ảnh hưởng lớn đến năng suất lúa, đặc biệt mưa vào giai đoạn trổ, nếu mưa bão nhiều, làm hạt phấn hút nước, trương vỡ nên mất sức sống hạt phấn, ảnh hưởng đến thụ phấn, thụ tinh.

Vụ Đông xuân 2025-2026, từ khi gieo sạ đến khi thu hoạch (25/12/2025–giữa cuối tháng 5/2026), thời tiết tại xã Cư Yang–Đắk Lắk có một số điểm đáng chú ý như sau:

  • Trước và sau gieo sạ: Thời tiết nắng ráo, không mưa nên làm đất, gieo sạ thuận lợi
  • Tuy nhiên, sau gieo sạ 7-10 ngày không khí lạnh, gió mùa Đông bắc nên có mưa lớn kéo dài liên tục, gió lạnh đã ảnh hưởng nên lúa sinh trưởng phát triển chậm, lúa vàng,… có sâu bệnh phát triển nhưng đã được phòng trừ kịp thời.
  • Đợt gió mùa Đông bắc lạnh và gió rét từ 20/02/2026–25/02/2026 (cây lúa sau sạ 60 ngày) nên làm vàng lá và ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển đồng.
  • Thời tiết thuận lợi kéo dài từ lúa trổ đến lúa chín.

Mặc dù điều kiện thời tiết vụ ĐX 2025-2026 có một số điểm bất lợi cho sự sinh trưởng phát triển của cây lúa ở giai đoạn sau gieo sạ 7-10 ngày và sau sạ 60 ngày, nhưng ở giai đoạn trổ, vào chắc và đến lúa chín, thời tiết nắng ấm khá thuận lợi cho việc tích lũy chất khô, thu hoạch.

3.2. Thời gian sinh trưởng và một số đặc điểm nông học

Trong vụ Đông Xuân 2025-2026, khi sử dụng Phân bón NPK Thế hệ mới Eco-Nanomix cây lúa sinh trưởng phát triển tốt với các chỉ tiêu: Chiều cao cây, chiều dài bông đều cao hơn so với ruộng đối chứng, lá lúa ruộng mô hình xanh bền hơn.

BẢNG 2. Ảnh hưởng của phân bón NPK Thế hệ mới Eco-Nanomix đến thời gian sinh trưởng và một số đặc điểm nông học

Chỉ tiêu Thời gian từ sạ đến trổ 50% (ngày) Thời gian từ sạ đến chín 85% (ngày) Chiều cao cây (cm) (TB±Sd) Chiều dài bông (cm) (TB±Sd)
Ruộng mô hình bón NPK Thế hệ mới Eco-Nanomix (MH) 105 135 91,1 ±0,6 24,5 ±0,8
Ruộng đối chứng bón phân NPK khác (Đ/c) 108 135 87,4 ±0,9 22,5 ±0,5
Chênh lệch so Đ/c (+/-) -3 0 +3,7 +2,0

Ruộng mô hình lúa trổ tập trung (5 ngày) trong khi ruộng đối chứng kéo dài hơn 2-3 ngày, vì lượng phân cân đối, không thừa đạm, đủ Kali ở các giai đoạn chính của lúa so với ruộng Đ/c. Thời gian sinh trưởng là 145 ngày.

3.3. Một số sâu bệnh hại chính và khả năng chống chịu

– Về sâu, bệnh hại

  • Về sâu hại: Không có sự xuất hiện và gây hại của rầy nâu trên ruộng mô hình và Đ/c tương đương điểm 0; sâu cuốn lá và sâu đục thân gây hại nhẹ ở điểm 1 ở ruộng mô hình và đối chứng, trong đó sâu ăn lá chủ yếu xuất hiện gây hại ở giai đoạn lúa non đến đẻ nhánh gây hại chính ở thời điểm lúa chuẩn bị làm đòng.
  • Về bệnh hại: Các đối tượng bệnh hại chủ yếu xuất hiện vào thời điểm lúa chín với mức độ gây hại nhẹ, cụ thể bệnh đạo ôn cổ bông gây hại ở điểm 1; bệnh khô vằn và đốm nâu gây hại nhẹ ở điểm 1 trên ruộng mô hình và điểm 3 ở ruộng Đ/c; bệnh đạo ôn lá không xuất hiện triệu chứng gây hại trên ruộng mô hình và đối chứng.

BẢNG 3. Ảnh hưởng của phân bón NPK Thế hệ mới Eco-Nanomix đến việc xuất hiện một số sâu bệnh, hại chính và khả năng chống chịu

Chỉ tiêu

Sâu hại chính
(điểm 0-9)

Bệnh hại chính
(điểm 0-9)

Khả năng
chống chịu
(điểm 1-9)

Sâu ăn

Rầy
nâu

Sâu
cuốn

Bọ trĩ

Sâu
đục
thân

Đạo
ôn lá

Đạo
ôn cổ
bông

Khô
vằn

Đốm
nâu

Thối
thân
thối
bẹ

Độ
cứng
cây

Độ
tàn lá

Ruộng mô hình
(MH)

1

0

0

1

0

0

0

1

1

0

1

1

Ruộng đối chứng
(Đ/c)

1

0

0

1

0

0

0

3

3

0

1

3

Ghi chú: điểm 0: Không nhiễm; điểm 1: nhiễm nhẹ; ……. điểm 9: nhiễm nặng

– Khả năng chống chịu

  • Độ cứng cây: Ruộng mô hình không đổ ngã và ruộng đối chứng có đổ ngã không đáng kể (điểm 1).
  • Độ tàn lá ruộng mô hình chậm hơn tương đương điểm 1 và đối chứng có độ tàn lá nhanh hơn (điểm 3).

Nhìn chung, trong điều kiện canh tác vụ ĐX 2025-2026 chỉ xuất hiện các đối tượng sâu bệnh gây hại nhẹ, đã phòng trừ kịp thời nên hầu như không gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lúa gạo ở ruộng mô hình. Tuy được phòng trừ như nhau nhưng ở ruộng Đ/c có bệnh khô vằn, đốm nâu nặng hơn và độ tàn lá nhanh hơn nên đã ảnh hưởng đến năng suất lúa (bảng 4).

3.4. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

BẢNG 4. Ảnh hưởng của phân bón NPK Thế hệ mới Eco-Nanomix đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất lúa

Nghiệm thức Số bông hữu hiệu/ m² (bông) (TB±Sd) Hạt chắc/ bông (hạt) (TB±Sd) Tỷ lệ lép (%) (TB±Sd) KL 1.000 hạt (gam) (TB±Sd) Năng suất lúa tươi (tạ/ha) (TB±Sd)
Ruộng mô hình bón NPK Thế hệ mới Eco-Nanomix (MH) 627,3 ±20,1 114,3 ±12,7 18,2 ±4,4 28,3 ±0,5 122,0 ±12,1
Ruộng đối chứng bón phân NPK khác (Đ/c) 591,7 ±24,7 86,0 ±15,7 24,4 ±7,4 28,2 ±0,5 102,0 ±30,6
Chênh lệch so Đ/c +35,7 +28,3 -5,9 -0,1 +20,0
Tỷ lệ tăng/giảm so Đ/c (+,-; %) +6,0 +32,9 -24,2 +19,6

Số liệu từ bảng 4 cho thấy:

  • Số bông hữu hiệu/m²: Do mật độ gieo sạ dày nên số bông hữu hiệu/m² cao, trong đó, số bông hữu hiệu ở ruộng mô hình đạt 627,3 bông, ruộng Đ/c là 591,7 bông, mặc dù mật độ bông ở đối chứng ít hơn nhưng chiều dài bông vẫn thấp hơn ruộng mô hình (Bảng 2).
  • Số hạt chắc/bông: Ở ruộng mô hình là 114,3 hạt, cao hơn so với ruộng Đ/c 28,3 hạt (tương ứng tăng 32,9%).
  • Tỷ lệ lép: Ruộng Đ/c có tỷ lệ lép 24,4%, cao hơn mô hình 5,9%. Do ruộng mô hình sử dụng phân bón NPK thế hệ mới công nghệ Eco-Nanomix thì cây khỏe nên ít sâu bệnh, có số hạt chắc cao hơn ruộng Đ/c.
  • Ruộng mô hình có khối lượng 1.000 hạt là 28,3 gam, cao hơn ruộng Đ/c 0,1 gam.
  • Năng suất ruộng mô hình bón phân NPK Thế hệ mới công nghệ Eco-Nanomix đạt 122 tạ/ha, năng suất ruộng Đ/c là 102 tạ/ha, như vậy vượt Đ/c 20 tạ/ha (tương ứng tăng 19,6%). Nếu so với năng suất lúa tại địa phương Thôn 8–Cư Yang trong vụ ĐX trong những năm gần đây là 80 tạ/ha thì lúa tại mô hình tăng 52,5% so với canh tác lúa hiện nay tại địa phương.

Từ kết quả trên cho thấy khi sử dụng Phân bón NPK Eco-Nanomix thì các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đều tăng hơn so với ruộng sử dụng phân NPK khác. Đặc biệt là số hạt chắc tăng 32,9%, tỷ lệ lép giảm 24,2% so với đối chứng, khối lượng 1.000 hạt cũng tăng hơn, chứng tỏ phân bón NPK Eco-Nanomix đã góp phần tăng chất lượng lúa gạo.

3.5. Hiệu quả kinh tế của mô hình

BẢNG 5. Hiệu quả kinh tế của mô hình sử dụng Phân bón NPK Thế hệ mới công nghệ Eco-Nanomix trên cây lúa vụ ĐX 2025-2026 tại xã Cư Yang–Đắk Lắk

TT Hạng mục đầu tư ĐVT Ruộng mô hình (MH) NPK Thế hệ mới Eco-Nanomix     Ruộng đối chứng (Đ/c) NPK khác     Tỷ lệ tăng/ giảm so Đ/c (%)
      Số lượng Đơn giá Thành tiền Số lượng Đơn giá Thành tiền  
I Tổng chi (1+2+3+4)       43.581     44.139 -1,3
1 Giống Kg 160 20,25 3.240 160 20,25 3.240  
2 Vật tư       13.230     14.380 -8,0
2.1 Phân bón Ha     9.600     10.750 -10,7
2.2 Thuốc sâu bệnh + công Ha     3.630     3.630  
3 Chi phí thủy lợi Ha     0     0  
4 Chi phí lao động Ha     27.111     26.519 +2,2
II Tổng thu Ha     67.100     56.100 +19,6
  Năng suất (tạ/ha) & Giá bán   122 550 67.100 102 550 56.100  
III Lãi ròng (II-I)       23.519     11.961 +96,6
  Lãi tăng thêm so Đ/c       11.558        
  Thu nhập (Công + Lãi)       35.519     23.961 +48,2
  Tỷ suất lợi nhuận Lần     0,54     0,27 +99,1

Kết quả bảng 5 cho thấy: Khi sử dụng Phân bón NPK Thế hệ mới công nghệ Eco-Nanomix với chi phí ruộng mô hình bón phân NPK khác 558.000 đồng/ha, trong đó chi phí phân bón ở mô hình giảm 10,7% (giảm 1.150.000 đồng/ha) do giảm lượng bón, vì lượng phân trong mô hình bón 600 kg/ha, ruộng đối chứng bón 750 kg/ha (lượng phân tăng 25% so mô hình), tuy nhiên năng suất lúa tươi của mô hình đạt 122 tạ/ha, cao hơn so với đối chứng 20 tạ/ha (tương ứng tăng 19,6%). Với giá lúa tươi tại thời điểm tháp, chỉ có 5.500 đồng/kg nhưng lãi ròng thu được tại ruộng mô hình đạt 23.519.000 đồng/ha cao hơn ruộng đối chứng là 11.558.000 đồng/ha, tương ứng lãi ròng tăng 96,6% (tăng gần gấp đôi).

Kết quả này đã trùng với khảo nghiệm phân NPK Thế hệ mới công nghệ Eco-Nanomix đã bón trên cây lúa vụ Đông xuân tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ từ năm 2023-2025, với năng suất khô mô hình đạt 78,0 tạ/ha, lãi ròng 28.500.000 đồng/ha và tỷ lệ tăng so với đối chứng lần lượt là 11,4% và 26,7% (Nguyễn Thanh Phương, Phạm Phú Hưng và cs.).

Nếu sản xuất lúa sử dụng phân bón NPK Thế hệ mới công nghệ Eco-Nanomix thì 1 ha/vụ có thu nhập (gồm tiền công lao động của nông dân và lãi ròng) là 35.519.000 đồng (3.551.900 đồng/sào) và tăng hơn đối chứng 48,2%. Tỷ suất lợi nhuận của mô hình là 0,54 lần (ruộng Đ/c là 0,27 lần), do đầu tư cao, giá lúa thấp nên tỷ suất lợi nhuận thấp.

Ngoài ra, lượng phân bón ruộng mô hình giảm hơn ruộng đối chứng là 150 kg/ha (tương ứng giảm 25%), giảm tồn dư kim loại trong lúa gạo, đặc biệt đã góp phần giảm khí thải nhà kính CO₂e, nhằm hạn chế biến đổi khí hậu. Đồng thời, phân NPK Mặt Trời Mới Eco-Nanomix chuyển dùng cho từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây lúa nên kỹ thuật bón đơn giản, hiệu quả, không cần phải phối trộn thêm bất kỳ loại phân nào khác và là phân bón 1 hạt nên thuận tiện trong bón phân bằng máy phun hạt hoặc bón phân bằng drone (máy bay không người lái).

 

4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

4.1. Kết luận

  • Giảm lượng bón phân NPK Thế hệ mới công nghệ Eco-Nanomix nhưng đã giúp cây lúa sinh trưởng tốt, phát triển cân đối, cứng cây, lúa đẻ nhiều và trổ tập trung hơn, nhánh hữu hiệu cao hơn. Tăng khả năng chống chịu nên sâu, bệnh chính hại lúa xuất hiện thấp hơn so đối chứng, nên giúp nông dân giảm dùng thuốc bảo vệ thực vật, giảm ô nhiễm môi trường, góp phần ổn định hệ sinh thái đồng ruộng, gia tăng hệ vi sinh vật và thiên địch có ích trên đồng ruộng. Chất lượng hạt gạo thông qua số hạt chắc, tỷ lệ chắc, khối lượng 1.000 hạt đều vượt hơn bón các loại phân NPK khác.
  • Năng suất lúa tươi của ruộng mô hình đạt 122 tạ/ha cao hơn so với ruộng đối chứng 12 tạ/ha (tương ứng tăng 19,6%).
  • Lãi ròng tại ruộng mô hình đạt 23.519.000 đồng/ha cao hơn hơn ruộng Đ/c là 11.558.000 đồng/ha (tương ứng tăng thêm 96,6%). Tỷ suất lợi nhuận của mô hình đạt 0,54 lần (trong khi ruộng đối chứng đạt 0,27 lần).

4.2. Khuyến nghị

  • Phân bón NPK Thế hệ mới công nghệ Eco-Nanomix cho năng suất lúa cao, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng ở địa phương, đề nghị chính quyền và các ngành chức năng của xã, của tỉnh quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để mô hình được đưa vào sản xuất tại xã Cư Yang, cũng như tỉnh Đắk Lắk ở những vùng có điều kiện tương tự nhằm nâng cao thu nhập cho người dân và canh tác xanh, bền vững tại địa phương.
  • Trong điều kiện giá vật tư cao, chi phí tăng cao, giá lúa thấp thì nông dân cần quan tâm đến việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật về phân bón (loại phân và kỹ thuật bón), về phẩm cấp hạt giống, mật độ sạ, về phòng trừ sâu bệnh hại,… nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.
 
 

Liên hệ

TẠM TÍNH